Việc định cư và làm việc tại Mỹ luôn là mơ ước của rất nhiều công dân Việt Nam. Bạn hãy cân nhắc các thông tin sau để lựa chọn cho mình một loại hình thức visa để có thể xin visa làm việc tại Mỹ một cách nhanh chóng nhất.

Hiện nay có rất nhiều người có mong muốn đến Mỹ định cư và làm việc. Tuy nhiên “đất nước tự do” có tiêu chuẩn khá khắt khe trong việc cấp visa và bạn nên nắm được các thông tin, điều kiện của từng loại visa và tìm cho mình một loại visa phù hợp nhất.

10

Thông thường tất cả các loại visa làm việc tại Mỹ đều không đồng nghĩa với việc định cư. Tức là dù bạn xin visa nhiều lần nhưng nếu hết hạn visa bạn vẫn phải về nơi cư trú. Tuy nhiên mỗi loại hình visa lại cho phép bạn có thể xuất ngoại cùng người nhà hoặc người thân, hoặc ở Mỹ trong một khoảng thời gian nhất định. Chúng ta tạm chia visa Mỹ thành 2 loại cơ bản đó chính là loại visa lao động và visa người phụ thuộc.

Visa làm việc tại Mỹ chính là một trong những loại visa lao động. Tùy thuộc vào học thức và bằng cấp của bạn sẽ được cấp các loại visa khác nhau cho phù hợp như visa dành cho các chuyên gia có bằng tốt nghiệp cử nhân trở lên, visa lao động lành nghề, visa dành cho những người lao động ngắn hạn trong lĩnh vực nông nghiệp… Điều kiện chung để cấp những visa loại này đó chính là bạn phải được chủ lao động bản địa nộp đơn và các giấy tờ chứng nhận rằng bạn sẽ sang Mỹ và làm việc trong công ty, tổ chức… của họ. Loại visa này người xin không thể tự ý làm.

3

Đối với visa phụ thuộc bạn cũng có thể xin như visa làm việc tại Mỹ. Visa phụ thuộc có hai loại đó chính là H – 4 và L – 2. Cùng là visa cho người phụ thuộc đi theo đương đơn tuy nhiên hai loại visa này có những khác biệt nhất định. Nếu như mục đích sang Mỹ của bạn là để đoàn tụ với người thân bạn có thể xin visa H – 4. Đây là loại visa phụ thuộc không cho phép người xin làm việc tại Mỹ sau khi nhập cảnh được cấp cho vợ/chồng và con dưới 21 tuổi của đương đơn.

Loại thứ 2 đó chính là visa L – 2. Đối với visa này tuy là visa phụ thuộc nhưng nó có giá trị tương đương như visa làm việc tại Mỹ bởi sau khi nhập cảnh Mỹ bạn có thể làm đơn xin đi làm và đóng phí. Chính quyền sở tại sẽ xem xét và có thể cấp giấy phép làm việc tại Mỹ cho bạn.

Bạn đang có ý định du lịch Hàn Quốc cuối năm nay nhưng chưa có visa. Bạn đang tính visa Hàn Quốc nhưng không biết các thủ tục cũng như làm visa mất bao nhiêu tiền khi đi Hàn Quốc. Đừng quá băn khoăn, những chia sẻ dưới đây sẽ cung cấp cho bạn một số thông tin hữu ích khi xin visa du lịch Hàn Quốc đấy.

du lịch hàn quốc

Hồ sơ bạn cần chuẩn bị khi xin visa đi Hàn Quốc

Để làm visa Hàn Quốc, đầu tiên bạn cần phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ. Số lượng giấy tờ mà bạn cần khá lớn nên bạn nhớ ghi chú lại và kiểm tra cẩn thận trước khi đem nộp ở Tổng lãnh sự quán. Những giấy tờ mà bạn cần gồm:

  • Hộ chiếu còn hiệu lực ít nhất là 6 tháng
  • Đơn xin cấp visa (có dán 1 tấm hình 3,5×4,5 được chụp trong vòng 3 tháng gần đây) xin tại Đại sứ quán hoặc tải về tại website của Đại sứ quán Hàn Quốc
  • Giấy chứng minh nghề nghiệp (hợp đồng lao động, đơn xin nghỉ phép…)
  • Giấy chứng minh tài chính (sổ tiêt kiệm, giấy tờ nhà đất, xe cộ, hợp đồng thuê nhà…)
  • Giấy chứng minh nhân dân photo
  • Lịch trình tham qua chi tiết (thời gian, địa điểm ghé thăm…)
  • Giấy xác nhận đặt phòng khách sạn

Sau khi chuẩn bị xong, bạn hãy nhanh chóng đem đến nộp tại Đại sứ quán Hàn Quốc nhé.

b43

Làm visa bao nhiều tiền?

Hiện nay làm visa đi Hàn Quốc chỉ tốn khoản 30USD đối với hồ sơ xin visa đi dưới 90 ngày, còn trên 90 ngày là 50USD. Cần lưu ý là lệ phí chỉ thu bằng USD và nếu hồ sơ của bạn không được chấp thuận thì cả lệ phí lẫn hồ sơ đều không được hoàn trả đâu đấy.

5

Thời gian tiếp nhận hồ sơ xin visa Hàn Quốc là từ 9g đến 12h từ thứ hai đến thứ 6. Thời gian nhận kết quả thường là sau 8 ngày làm việc. Bạn hãy nhớ khi đi nộp hồ sơ thì phải mang theo giấy chứng minh nhân dân gốc nhé.

Hiện nay, Hàn Quốc là một địa điểm du lịch nổi tiếng trên thế giới nên việc làm visa cũng gặp quá nhiều khó khăn. Làm visa đi Hàn Quốc không cần phỏng vấn nhưng trong vài trường hợp thì bạn sẽ nhận được một cuộc phỏng vấn ngắn qua điện thoại để xác minh lại một số thông tin bạn ghi trong hồ sơ.

Qua những chia sẻ trên, chắc hẳn các bạn đã hiểu thêm về việc xin visa đi Hàn Quốc đúng không nè. Việc làm visa đi Hàn Quốc không tốn quá nhiều thời gian và tiền bạc của bạn đâu nhé nhưng nếu bạn đang cần gấp thì hãy liên hệ với Bộ phận Visa để được tư vấn và hỗ trợ nhé.

Khái quát chung về Hàn Quốc

Đất nước Hàn Quốc

Đất nước Hàn Quốc

Đại Hàn Dân Quốc (Tiếng Triều Tiên: 대한민국/ 大韓民國/ Daehan Minguk), gọi tắt là Hàn Quốc, còn gọi là Nam Hàn, Nam Triều Tiên, Đại Hàn, Cộng hòa Triều Tiên là một quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên. phía bắc giáp với Bắc Triều Tiên. phía đông Hàn Quốc giáp với biển Nhật Bản, phía tây là Hoàng Hải. Thủ đô của Hàn Quốc là Seoul, một trung tâm đô thị lớn thứ hai trên thế giới và là thành phố toàn cầu quan trọng. Hàn Quốc có khí hậu ôn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi. Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng 100,032 km vuông. Với dân số 48 triệu người, Hàn Quốc là quốc gia có mật độ dân số cao thứ ba (sau Bangladesh và Đài Loan) trong số các quốc gia có diện tích đáng kể.

Hàn Quốc hiện là một nước Dân chủ đầy đủ và theo chế độ cộng hòa tổng thống bao gồm 16 đơn vị hành chính. Hàn Quốc là một nước phát triển có mức sống cao, có nền kinh tế phát triển theo phân loại của Ngân hàng Thế giới và IMF. Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ 4 ở châu Á và thứ 15 trên thế giới. Nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, tập trung vào hàng điện tử, ô tô, tàu biển, máy móc, hóa dầu và rô-bốt. Hàn Quốc là thành viên của Liên hiệp quốc, WTO, OECD và nhóm các nền kinh tế lớn G-20. Hàn Quốc cũng là thành viên sáng lập của APEC và Hội nghị cấp cao Đông Á và là đồng minh không thuộc NATO của Hoa Kỳ. Gần đây, Hàn Quốc đã tạo ra và tăng cường sự phổ biến văn hóa đặc biệt là ở châu Á, còn được gọi là Làn sóng Hàn Quốc.

Thông tin về đất nước Hàn Quốc

Quốc kì Hàn Quốc

Quốc kì Hàn Quốc

1. Tên nước: Đại Hàn Dân Quốc, gọi tắt là Hàn Quốc. Tên chính thức tiếng Anh là Republic of Korea (ROK) (không gọi là Nam Hàn, Nam Triều Tiên, Cộng hòa Triều Tiên).

2. Thủ đô: Xơ-un (Seoul), dân số 10,44 triệu người (01/2013).

3. Vị trí địa lý: Ở phía Nam Bán đảo Triều Tiên; Đông, Tây, Nam giáp biển; Bắc giáp Triều Tiên qua giới tuyến quân sự chạy dọc vĩ tuyến 38o Bắc.

4. Diện tích: 99.392 km2 (toàn bán đảo: 222.154 km2)

5. Khí hậu: Khí hậu ôn đới, có 4 mùa rõ rệt.

6. Dân số: 50,76 triệu người (02/2013).

7. Dân tộc: Chỉ có 1 dân tộc là dân tộc Hàn (Triều Tiên).

8. Tôn giáo: Phật giáo 10,7 triệu; Tin lành 8,6 triệu; Thiên chúa 5,1 triệu; Nho giáo 104 nghìn…

9. Ngôn ngữ: Tiếng Hàn Quốc (một tiếng nói, một chữ viết).

10. Tiền tệ: Đồng Won

11. Ngày Quốc khánh:

+ 03/10/2333 trước Công nguyên: Ngày Lập quốc, còn gọi là Lễ Khai thiên.

+ Ngày 15/8/1945: Ngày Giải phóng (của Bán đảo Triều Tiên khỏi sự chiếm đóng của Nhật Bản).

+ Ngày 15/8/1948: Thành lập Chính phủ Đại Hàn Dân Quốc.

12. Thể chế nhà nước: Hiến pháp Hàn Quốc ban hành lần đầu tiên ngày 17/7/1948 quy định Hàn Quốc theo chế độ Cộng hòa, tam quyền phân lập.

13. Cơ quan hành pháp: Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp và giữ một nhiệm kỳ 5 năm.

14. Cơ quan lập pháp: Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội. Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện, gồm 299 ghế. Nghị sỹ Quốc hội Hàn Quốc được bầu theo nguyên tắc bỏ phiếu phổ thông, nhiệm kỳ 04 năm.

15. Cơ quan tư pháp: Hàn Quốc thực hiện chế độ tư pháp ba cấp gồm Toà án Tối cao, ba toà Thượng thẩm và các Toà án Quận ở các thành phố lớn. Toà án Tối cao xem xét và thông qua những quyết định cuối cùng, các kháng cáo đối với quyết định của các Toà Thượng thẩm. Quyết định của Toà án Tối cao là cuối cùng.

16. Múi giờ: (UTC+9)

17. Tên miền Internet: .kr

18. Mã số điện thoại: +82

Địa lý

Bản Đồ Hàn Quốc

Bản Đồ Hàn Quốc

Hàn Quốc nằm ở phần phía nam bán đảo Triều Tiên thuộc khu vực Đông Á. Phía Đông, phía Tây và phía Nam trông ra biển; phía Bắc giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.

Địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích nằm ở phía đông; vùng đồng bằng duyên hải ở phía tây và Nam. Bãi bồi ven biển Saemangeum là bãi nổi ven biển lớn thứ hai thế giới.Thành phố lớn nhất Hàn Quốc là Seoul (Hán Thành), dân số chính thức khoảng trên 10 triệu người, nằm ở phía tây Bắc. Những thành phố lớn khác là Incheon (Nhân Xuyên) ở phía tây Seoul, Daejeon (Đại Điền) ở miền trung, Kwangju (Quang Châu) ở phía tây nam, Daegu (Đại Khâu) và Busan (Phủ San) ở phía đông nam.

Khí hậu

Khí hậu Hàn Quốc

Khí hậu Hàn Quốc

Khí hậu: Hàn Quốc có bốn mùa rõ rệt. Mùa xuân và mùa thu khá ngắn, mùa hè nóng và ẩm ướt, mùa đông thì lạnh, khô và tuyết rơi nhiều, đặc biệt là ở các khu vực miền núi, không phải dọc theo bờ biển phía nam.

Khí hậu cũng khác nhau tại các vùng trên đất nước, với nhiệt độ trung bình từ 60 độ C đến 16 độ C. Nhiệt độ trung bình vào tháng Tám, tháng nóng nhất trong năm là từ 19 độC đến 27 độC, trong khi đó nhiệt độ vào tháng Giêng, tháng lạnh nhất trong năm từ -8 độC đến 7 độ C.
Vùng đồng bằng duyên hải ở phía tây và nam. Bãi bồi ven biển Saemangeum là bãi nổi ven biển lớn thứ hai thế giới.

Vào đầu xuân, Hàn Quốc thường có “cát/ bụi vàng” do gió cuốn về từ các sa mạc phía bắc Trung Quốc. Nhưng vào giữa tháng Tư, đất nước được hưởng một thời tiết êm dịu với núi và cánh đồng ngập trong màu sắc rực rỡ của các loài hoa dại. Đây là lúc người nông dân chuẩn bị gieo mạ cho vụ lúa hàng năm. Với không khí khô và bầu trời trong xanh như pha lê, mùa thu là mùa mà tất cả người Hàn đều yêu thích. Phong cảnh nông thôn đẹp khác thường với những màu sắc đa dạng. Mùa thu là mùa gặt hái, cũng là mùa của những lễ hội dân gian bắt nguồn từ phong tục tập quán của nhà nông từ thời xa xưa.Vào mùa đông nhiệt độ thường xuyên dưới 0°C và có thể xuống rất thấp. Gió mùa mang không khí lạnh từ Siberia thổi tới.

Đơn vị hành chính

Hàn Quốc bao gồm 8 khu vực và 1 đặc khu tự trị Jeju. Thủ đô là Seoul, có 6 thành phố trực thuộc Trung ương là Busan, Daegu, Incheon, Gwangju, Daejeon và Ulsan. Hàn Quốc là một thiên đường du lịch với rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Hàn Quốc là đất nước hiện đại với những phong cảnh tuyệt đẹp.

Chính trị

tong quan dat nuoc han quoc tong thong han quocNữ Tổng thống Park Geun-hye

Người đứng đầu Đại Hàn Dân quốc là Tổng thống do dân trực tiếp bầu ra mỗi năm năm một lần và không được phép tái ứng cử.

– Tổng thống là đại diện cao nhất của quốc gia và có quyền chỉ huy quân đội (tương đương chức: Tổng Tư lệnh).

– Thủ tướng do Tổng thống chỉ định và lãnh đạo chính phủ. Chính phủ có tối thiểu 15 và tối đa là 30 thành viên. Thành viên chính phủ do thủ tướng chỉ định. Chức vụ thủ tướng cũng như bộ trưởng phải được sự thông qua của quốc hội.

– Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện và được gọi là 국회 (國會, Gukhoe, Quốc hội). Đại biểu quốc hội được bầu mỗi bốn năm một lần. Quốc hội có tất cả 299 đại biểu.

– Cơ quan quan trọng thứ ba trong hệ thống chính trị Hàn Quốc là Toà án tối cao. Cơ quan này theo dõi hoạt động của chính phủ và ra các phán quyết cuối cùng. Toà án gồm có chín thẩm phán tối cao. Tổng thống trực tiếp chỉ định ba người trong số này, ba người được quốc hội bầu ra, tuy nhiên phải được sự chấp thuận của tổng thống. Chánh án toà án tối cao là người chỉ định ba thẩm phán còn lại.

Kinh tế

Tiền Hàn Quốc

Tiền Hàn Quốc

Hàn Quốc có một nền kinh tế thị trường trong đó nhà nước đóng vai trò quan trọng.

          Từ những năm 1970 nhiều công ty lớn của Hàn Quốc bắt đầu tạo chỗ đứng trên thị trường thế giới. Trong số đó có thể kể tới Samsung, Hyundai hay GM Daewoo. Việt Nam mới chỉ được làm quen với một vài lĩnh vực của các tập đoàn này. Ví dụ như ở Hàn Quốc Samsung cũng rất năng động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chế tạo máy, thương nghiệp và bất động sản. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á nhiều chi nhánh của các tập đoàn này ở nước ngoài đã bị đóng cửa. Một ví dụ điển hình là Daewoo đã phải bán bộ phận sản xuất xe hơi cho tập đoàn General Motors của Mỹ.

     Nền kinh tế lớn thứ tư châu Á đã phải từng phải ngừng hoạt động một loạt các lò phản ứng hạt nhân do các tài liệu giả mạo vào cuối năm 2012. Ngành công nghiệp hạt nhân của Hàn Quốc đã bị chỉ trích vì giống một nền văn hóa bí ẩn dẫn đến nạn tham nhũng của các quan chức liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận an toàn. Do các nhà máy hạt nhân này sản xuất một phần ba điện của Hàn Quốc nên các quan chức cho biết họ sẽ chỉ kiểm tra và thay thế các bộ phận, chứ không phải là loại bỏ dần chúng.

   Văn hóa

   Văn Hóa Hàn Quốc

Văn Hóa Hàn Quốc

        Ở Hàn Quốc, ngôn ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên). Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ này vào hệ ngôn ngữ Altai, một số khác thì cho rằng tiếng Hàn Quốc là một ngôn ngữ biệt lập (language isolate). Kể từ bậc tiểu học, người ta bắt đầu dạy tiếng Anh cho học sinh. Sau này tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật cũng trở thành ngoại ngữ chính. Các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha ít phổ biến hơn.

     Khác với chữ viết của các nước vùng Đông Á, Hangeul – chữ viết chính của người Hàn Quốc – sử dụng một bảng chữ cái gồm 51 kí tự, 24 kí tự đơn và 27 kí tự kép. Những kí tự này được kết hợp theo âm tiết thành các chữ. Đối với những người không biết thì chữ Triều Tiên cũng phức tạp y như chữ Hán vậy. Nhưng thực ra người học có thể nắm được căn bản của loại chữ viết này chỉ sau 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Vì lẽ đó mà chữ Hangeul được gọi là Atsim-Gul (chữ viết buổi sáng – trong một buổi sáng có thể học xong).

    Hanja, bộ chữ Hán của người Triều Tiên, có ý nghĩa tương tự như chữ La tinh ở các nước châu Âu. Giống như các ngôn ngữ ở Đông Á và Đông Nam Á, rất nhiều từ trong tiếng Hàn Quốc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên việc loại bỏ đi các thanh âm trong tiếng Hán dẫn đến việc trong tiếng Hàn Quốc có rất nhiều từ đồng âm. Các từ này được phát âm giống nhau nhưng mang ý nghĩa khác nhau và chỉ phân biệt được ý nghĩa dựa vào ngữ cảnh. Vì vậy, để cho rõ nghĩa, trong các văn bản khoa học người ta thường ghi chú thích bằng chữ Hanja ở đằng sau những cụm từ quan trọng. Trên các tấm danh thiếp người ta cũng thường sử dụng chữ Hanja để giải thích ý nghĩa tên của họ.

Văn học
Văn Học Hàn Quốc

Văn Học Hàn Quốc

Văn học Hàn Quốc có một số lượng lớn độc giả. Những buổi đọc sách thậm chí được tổ chức tại các sân vận động.

Hwang Sok-Yong (1943) là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất xứ Hàn. Ông đã trải qua cuộc chiến tranh Triều Tiên và từng tham chiến tại chiến tranh Việt Nam. Đề tài chính trong các tác phẩm của ông là mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại.

Tôn giáo

 Tôn giáo Hàn Quốc

Tôn giáo Hàn Quốc

Theo số liệu thống kê đến năm 2005 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp, có khoảng 46% của công dân cho biết không theo tôn giáo nào. Người theo đạo Cơ đốc chiếm 29,2% dân số (trong số đó là đạo Tin Lành 18,3%, Công giáo 10,9%) và 22,8% là Phật tử. 1% là tín đồ đạo Khổng, 1% còn lại theo các tôn giáo khác.

Tại Hàn Quốc có khoảng 45.000 người bản địa theo Hồi giáo (khoảng 0,09% dân số), bổ sung vào con số 100.000 lao động nước ngoài từ các quốc gia Hồi giáo.

Nhiều người dân Hàn Quốc không đặt nặng vấn đề tôn giáo, họ tổ chức ngày lễ của nhiều tôn giáo khác nhau. Việc pha trộn tôn giáo này vấp phải sự phản đối kịch liệt của hơn 90.000 tín đồ Nhân chứng Giê-hô-va. Những nghi lễ cổ truyền vẫn còn được duy trì. Các giá trị của đạo Khổng hiện nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống thường ngày của người dân xứ Hàn.

Ẩm thực

Ẩm Thực Hàn Quốc

Ẩm Thực Hàn Quốc

Hàn Quốc nổi tiếng nhất với món kim chi, một món ăn sử dụng quá trình lên men đặc biệt để bảo quản một số loại rau, trong đó phổ biến nhất là bắp cải. Đây là một loại thực phẩm lành mạnh vì nó cung cấp các vitamin và chất dinh dưỡng cần thiết. Gochujang (một loại nước sốt truyền thống Hàn Quốc làm từ ớt đỏ) rất thông dụng, cũng như tương tiêu (hoặc ớt), là những món điển hình của nền ẩm thực nổi tiếng với vị cay.

Bulgogi (thịt nướng tẩm gia vị, thường là thịt bò), galbi (xương sườn cắt khúc tẩm gia vị nướng) và món samgyeopsal (thịt lợn ở phần bụng) đều là những đặc sản từ thịt phổ biến. Cá cũng là một thực phẩm phổ biến, vì nó là loại thịt truyền thống mà người Hàn Quốc hay dùng. Bữa ăn thường đi kèm với súp hoặc món hầm, chẳng hạn như galbitang (xương sườn hầm) và doenjang jjigae (canh súp đậu lên men). Giữa bàn ăn là đủ loại món ăn phụ gọi là banchan.

Các món ăn phổ biến khác gồm bibimbap – có nghĩa là “cơm trộn” (cơm trộn với thịt, rau, tương ớt đỏ) và naengmyeon (mì lạnh). Một món ăn nhanh phổ biến ở Hàn Quốc là kimbab, gồm cơm trộn với rau và thịt cuộn trong lớp rong biển. Tuy ngày càng có nhiều thành phần thức ăn được cuộn trong kimbab nhưng cá dù sống hoặc chín vẫn hiếm khi được sử dụng, có lẽ do nguồn gốc kimbap là một món ăn cầm tay hoặc món ăn nhanh có thể gói lại mang đi, trong khi đó cá có thể nhanh chóng hư hỏng nếu không được đông lạnh.

Mì ăn liền cũng là một loại thức ăn nhẹ rất phổ biến. Người Hàn Quốc cũng thích dùng các loại thức ăn từ pojangmachas (bán dạo trên đường phố), ở đây người ta có thể mua tteokbokki (bánh gạo và bánh cá với nước sốt gochujang cay), khoai tây chiên mực và khoai lang tẩm. Soondae là loại một xúc xích làm bằng mì sợi trong suốt và huyết lợn cũng được rất nhiều người ưa thích.

Ngoài ra, một số món ăn nhẹ phổ biến khác bao gồm chocopie, bánh tôm, bbungtigi (bánh gạo giòn) và “nu lung ji” (cơm cháy nhẹ). Có thể ăn sống nu lung ji hoặc đun với nước để tạo ra một món canh. Nu lung ji cũng có thể được dùng như một món ăn nhanh hay món tráng miệng.

Âm nhạc

tong quan dat nuoc han quoc am nhacK-Pop

K-Pop (viết tắt của Korean Pop, Pop Hàn Quốc) là dòng nhạc Pop ở Hàn Quốc chịu ảnh hưởng của J-Pop (Pop Nhật).
Noraebang, karaoke của Hàn Quốc: Trong tiếng Triều Tiên không có từ nghĩa tương đương với karaoke. Thay vào đó, họ gọi loại hình giải trí này là norae (노래, tiếng hát). Các quán karaoke (노래방, noraebang) được tìm thấy ở khắp các ngóc ngách. Cả thanh niên lẫn người lớn tuổi đều mê loại hình giải trí này.

Các ngày quốc lễ

Quốc lễ Hàn Quốc

Quốc lễ Hàn Quốc

1/1: Năm mới – Seol: Đây là ngày đầu tiên trong năm theo âm lịch và là ngày nghỉ đối với cả nước. Một ngày trước và một ngày sau ngày này cũng là ngày nghỉ.

1/3: Ngày độc lập: Ngày này đánh dấu các phong trào giành độc lập trên quy mô rộng lớn đòi tự do từ ách thực dân Nhật năm 1919.

5/4: Tết trồng cây: Ngày cả nước trồng cây xanh.

5/5: Tết thiếu nhi: Ngày có nhiều hình thức vui chơi cho trẻ em.

Lễ Phật Đản: Ngày 8/4 âm lịch. Các nghi lễ trang nghiêm được tổ chức tại các đền chùa Phật giáo. Đỉnh cao của các hoạt động lễ hội trong ngày này là lễ rước đèn lồng ở trung tâm Seoul.

6/6: Lễ tưởng niệm. Cả nước viếng hồn các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến tranh bảo vệ đất nước. Lễ tưởng niệm được tổ chức ở Nghĩa trang Quốc gia.

17/7: Ngày lập pháp. Ngày kỷ niệm sự công bố chính thức hiến pháp của Đại Hàn Dân Quốc năm 1948.

15/8: Ngày giải phóng. Vào ngày này năm 1945, Hàn Quốc được giải phóng khỏi ách thống trị kéo dài 35 năm của thực dân Nhật. Ngày này cũng đánh dấu sự thiết lập Chính phủ Hàn Quốc năm 1948.

Chuseok: Ngày 15/8 âm lịch. Các gia đình tổ chức các nghi thức kỷ niệm tại nhà hoặc đi thăm mộ gia tiên. Họ cùng ngắm trăng tròn và cầu mong những điều tốt đẹp.

3/10: Ngày Quốc khánh. Ngày thành lập nhà nước do Dangun lập nên, năm 2333 TCN.

25/12: Lễ Giáng Sinh. Cả các tín đồ theo đạo và người không theo đạo Cơ đốc đều kỷ niệm ngày này, giống như ở các nước phưong Tây.

Ngoài ra còn có một số ngày lễ dành cho gia đình cũng có ý nghĩa quan trọng đối với người Hàn Quốc và người ta thường cử hành bằng cách tổ chức tiệc tùng và các trò vui chơi. Đó là ngày baegil (kỷ niệm 100 ngày kể từ ngày em bé ra đời), dol (kỷ niệm sinh nhật đầu tiên của bé), hoegap hay hwangap (sinh nhật lần thứ 60) – được coi là lễ kỷ niệm tròn một vòng quay 60 năm trong đời một con người theo quan niệm Hoàng đạo Phương đông. Những ngày đặc biệt này thường được tổ chức náo nhiệt, đặc biệt khi tỷ lệ tử vong sơ sinh cao và tuổi thọ con người còn thấp.

Những dịp như vậy từng được tổ chức như một ngày hội, trong đó có sự góp mặt của cả những người họ hàng xa. Ngày nay chỉ có thành viên trong gia đình tham gia các dịp này. Đối với lễ hoegap, ngày càng có nhiều người đi du lịch nước ngoài thay cho làm lễ kỷ niệm tại nhà.

Giáo dục

Giáo dục Hàn Quốc

Giáo dục Hàn Quốc

Hệ thống trường học hiện đại ở Hàn Quốc gồm sáu năm tiểu học, ba năm trung học cơ sở và ba năm trung học phổ thông. Học sinh bắt buộc phải học tiểu học và trung học cơ sở nhưng không phải trả chi phí giáo dục, ngoại trừ một khoản phí nhỏ gọi là “Phí hỗ trợ hoạt động của nhà trường”. Khoản phí này khác nhau tùy theo từng trường học. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế – do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD) khởi xướng và chỉ đạo – hiện đang xếp hạng giáo dục khoa học của Hàn Quốc tốt thứ ba trên thế giới và cao hơn mức trung bình của OECD.

Hàn Quốc cũng xếp thứ hai về toán học và văn học, đứng nhất về giải quyết vấn đề. Mặc dù sinh viên Hàn Quốc thường được xếp hạng cao trong các bài kiểm tra so sánh quốc tế, tuy nhiên hệ thống giáo dục đôi khi bị lên án vì tập trung nhấn mạnh vào việc học thụ động và học thuộc lòng. Hệ thống giáo dục của Hàn Quốc khắt khe và rập khuôn hơn hệ thống giáo dục ở hầu hết các nước phương Tây. Ngoài ra, việc thành lập các trường tư độc lập với học phí cao (Hagwon (학원)) bị lên án như là một vấn đề lớn của xã hội. Tuy nhiên, sau khi sinh viên bước vào đại học, tình hình lại đảo ngược đáng kể.

Hàn Quốc thường tự hào vì nền công nghiệp giáo dục của mình. Nhưng đất nước này đã đi hơi quá trớn với nó, với 407 trường cao đẳng và đại học kết quả là học sinh tốt nghiệp quá nhiều kết quả là tỷ lệ thất nghiệp cao. Giáo dục đã trở thành một cống tài chính làm tê liệt nền kinh tế lớn thứ tư châu Á. Việc học thêm và luyện thi đại học gây nợ nần cho các gia đình nhiều hơn 3 phần trăm của tổng sản phẩm trong nước và tất cả chỉ để tạo ra “thanh niên thất nghiệp tuổi 20”. Chính phủ đã đưa tỷ lệ thất nghiệp cao trên danh sách các ưu tiên hàng đầu bằng cách đầu tư vào các công trình công cộng nhưng chương trình này không quan tâm đến những người được đào tạo trẻ.

Khoa học và công nghệ Hàn Quốc
Hàn Quốc

Hàn Quốc

Jikji, quyển sách xưa nhất được tìm thầy sử dụng phương pháp in thủ công dùng kim loại vào năm 1377. Bảo tàng Quốc gia Bibliothèque Paris.

Một trong những hiện vật nổi tiếng trong lịch sử của Hàn Quốc về khoa học và công nghệ là Cheomseongdae (첨성대, 瞻星臺), một đài quan sát cao 9,4 mét được xây dựng năm 634.

Mẫu bản in khắc gỗ Hàn Quốc xưa nhất còn sót lại là Kinh Đại bi tâm Đà la ni Mugujeonggwang.[22] Bản mẫu này được tin rằng đã được in tại Hàn Quốc vào năm 750-751 trước công nguyên, nếu đúng như vậy thì bản in này còn nhiều tuổi hơn Kim cương Kinh. Tơ Cao Ly được người phương Tây đánh giá cao và đồ gốm Hàn Quốc làm bằng gốm men ngọc màu xanh dương-xanh lá có chất lượng cao nhất và các thương gia Ả Rập săn lùng. Cao Ly đã có một nền kinh tế tấp nập với thủ đô thường xuyên được các thương gia từ khắp nơi trên thế giới ghé qua.

Trong thời kỳ Joseon những Geobukseon (tàu con rùa) được phát minh, sử dụng sàn gỗ và gai sắt,cùng các vũ khí khác như bigyeokjincheolloe (비격진천뢰, 飛擊震天雷) và hwacha.

Bảng chữ cái Hangul của Hàn Quốc cũng được vua Thế Tông (Sejong) phát minh trong thời gian này.

Thể thao

 Taekwondo Hàn Quốc

Taekwondo Hàn Quốc

Hàn Quốc có một nền thể thao tương đối mạnh ở châu Á và trên thế giới. Những môn thể thao mạnh là:

Võ – đặc biệt là Taekwondo. Bóng đá – từng xếp hạng tư thế giới tại World Cup 2002

Các cầu thủ nổi tiếng: Ahn Jung Hwan (hiện chơi cho Yokohama City FC), Phác Trí Tinh (Manchester United FC), Lý Toán Thù (Lee Chun Soo), Từ Đảu Lý (Cha Doo Ri),…

Bóng chày được du nhập vào Triều Tiên năm 1905 và sau đó trở thành một môn thể thao được nhiều người xem ở Hàn Quốc. Liên đoàn Bóng chày Hàn Quốc được thành lập năm 1982, là liên đoàn thể thao chuyên nghiệp đầu tiên ở Hàn Quốc. Đội tuyển bóng chày Hàn Quốc đoạt giải 3 trong Giải Bóng chày Thế giới 2006, giải nhì trong năm 2009 và huy chương vàng Olimpic Bắc Kinh 2008.[27]

Năm 1988, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1988, quốc gia này được xếp hạng 4, với 12 huy chương vàng, 10 bạc và 11 đồng. và cũng xuất sắc trong các môn như bắn cung, bóng bàn, cầu lông, trượt băng (patinaje de velocidad sobre pista corta), bóng ném, hockey trên băng, đấu vật, bóng chày, judo, taekwondo, patin và cử tạ. Hàn Quốc cũng đoạt nhiều huy chương ở Thế vận hội Mùa đông so với các quốc gia châu Á khác. Tại Thế vận hội Mùa đông 2010, các đội tuyển Hàn Quốc giành tổng cộng 14 huy chương (gồm 6 vàng, 6 bạc và 2 đồng) trên tổng số 45 huy chương (23 vàng, 14 đồng và 8 bạc).

Hàn Quốc đã đăng cai tổ chức các kỳ Đại hội thể thao châu Á trong các năm 1986 (Seun) và 2002 (Busan) và sẽ đăng cai tổ chức Đại hội này năm 2014 (Inchon).[28] Cũng đã đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Mùa đông châu Á 1999; và sự kiện thể thao liên minh các trường đại học Thế giới Universiada Mùa đông năm 1997 và Mùa hè 2003. Đồng đăng cai tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 với Nhật Bản, và đội bóng đá của Quốc gia này trở thành đội đầu tiên thuộc Liên đoàn bóng đá châu Á lọt vào vòng bán kết.

Hàn Quốc

Hàn Quốc

  1. Đài Loan (chữ Trung phồn thể: 臺灣 hoặc 台灣; chữ Trung giản thể: 台湾; bính âm: Táiwān; Wade-Giles: T’ai-wan; tiếng Đài Loan: Tâi-oân) là một đảo ở khu vực Đông Á, ngoài khơi đông nam Đại lục Trung Quốc, phía nam Nhật Bản và phía bắc Philippines.

    “Đài Loan” cũng thường để chỉ lãnh thổ do nhà nước Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) quản lý, bao gồm các đảo Đài Loan (gồm có đảo Lan Tự và Lục Đảo), quần đảo Bành Hồ tại eo biển Đài Loan, Kim Môn và Mã Tổ ở ngoài khơi Phúc Kiến, đồng thời cũng chiếm đảo Thái Bình và đảo Đông Sa ở Biển Đông.

    Đảo chính của Đài Loan cũng được gọi là Formosa cho đến thập niên 1960 (các thủy thủ người Bồ Đào Nha gọi nó là Ilha Formosa, nghĩa là “hòn đảo xinh đẹp”), phía đông giáp với Thái Bình Dương, phía nam giáp Biển Đông, phía tây là eo biển Đài Loan và phía bắc là Đông Hải Trung Quốc. Hòn đảo này dài 394 km và rộng 144 km, gồm nhiều dãy núi dốc và bao phủ bởi hệ thực vật nhiệt đới và tiểu nhiệt đới.

  2. Vị trí địa lý tự nhiên:

Đài Loan là một hòn đảo có tổng diện tích 36.000km, cách bờ biển Đông Nam lục địa Trung Hoa khoảng 160km,      được ngăn cách bởi tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc bởi eo biển Đài Loan, cách Philipin 350 km về phía Nam, cách Nhật Bản 1,070 km về phía Bắc Đài

 Khí hậu:

–           Đài Loan có khí hậu nhiệt đới đại dương. Phần phía bắc của đảo có mùa mưa từ cuối tháng một cho đến cuối tháng 3 do gió mùa đông bắc đem tới. Hòn đảo có khí hậu nóng, ẩm từ tháng 6 đến tháng 9. Vùng trung và nam đảo không có gió mùa đông bắc vào mùa đông. Các thiên tai như bão và động đất thường xuyên xảy ra tại hòn đảo

–          Đài Loan có một mật độ dân số cao với nhiều nhà máy, điều này đã làm cho nhiều khu vực trên đảo đã bị ô nhiễm nặng nề. Đáng chú ý là các khu ngoại ô phía nam Đài Bắc và phía tây Đài Nam và phía nam của Cao Hùng. Trong quá khứ, Đài Bắc đã phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm vì có nhiều phương tiện giao thông và nhà máy, nhưng cùng với việc bắt buộc sử dụng xăng không chì và thành lập Cơ quan Bảo vệ Môi trường, chất lượng không khí của Đài Loan đã được cải thiện rất nhiều. Xe tay ga, đặc biệt là xe có động cơ hai thì có thể bắt gặp mọi nơi tại Đài Loan, cũng góp một phần nhỏ vào nạn ô nhiễm

–           Đài Loan có 4 mùa: mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 5, mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8, mùa thu từ tháng 9 đến tháng 10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Nhiệt độ trung bình 22c

  1. Dân số, ngôn ngữ, tiền tệ:

–    Dân số Đài Loan có khoảng 23 triệu người . Thành phố Đài Bắc là thủ phủ của hòn đảo này , là nơi có mật độ dân  số cao nhất, tiếp đó là thành phố Cao Hùng ở phía Nam.

–    Ngôn ngữ sử dụng chín là tiếng Hoa phổ thông, ngoài ra còn có tiếng Đài Loan, Hakka và ngôn ngữ người bản địa

–           Tiền Đài Loan được gọi là tiền Đài tệ, gồm có tiền giấy và tiền kim loại.

  1. Thực phẩm, đồ uống

–          Thực phẩm chủ yếu là cơm và mì sợi, người Đài loan thường ăn rất ít cơm, buổi sáng hay ăn cháo

–          Đồ uống: rượu, nước hoa quả đóng hộp, các loại nước có ga, nước khoáng…

 

  1. Hệ thống giao thông và thông tin liên lạc:

–          Hệ thống giao thông ở Đài Loan rất phát triển , đi lại thuận tiện. Sân bay quốc tế ở địa phận. Sân bay quốc tế ở địa phận tỉnh Đào Viên và Cao Hùng, ngoài ra còn các sân bay nội địa. Đường cao tốc Bắc Nam và hệ thống đường bộ, đường sắt hoàn chỉnh nối liền với nhau. Trong thành phố có hệ thống ô tô buýt rất phát triển , tại thành phố Đài Bắc và Cao Hùng có hệ thống tàu điện ngầm hiện đại. Mọi người đều tuân thủ luật lệ giao thông, đi đúng phần đường quy định, ngồi trên xe máy đều phải đội mũ bảo hiểm.

–          Mạng lưới thông tin liên lạc của Đài Loan cũng rất phát triển, việc liên lạc bằng điện thoại, fax, email cả nội địa và ra ngoài Đài Loan dễ dàng, thuận tiện. Bạn có thể gọi điện thoại ở các “bốt” điện thoại công cộng bằng cách mua thẻ gọi điện thoại.

–          Phong tục tập quán  của người Đài Loan rất gần gũi với phong tục tập quán của người Việt Nam; thời gian tính cả dương lịch và âm lịch, có phong tục cúng lễ , đốt hương và vàng mã vào ngày rằm, mùng 1 và các ngày tết, ngày giỗ thờ cúng tổ tiên.

–          Trong một gia đình thường sống chung các thế hệ ông bà, cha mẹ và con cháu

–          Người Đài Loan có thói quen uống trà nóng trong các tách nhỏ và hay ăn trầu.

  1. Văn hóa Đài Loan

–          Là một sự pha trộn của nhiều dòng khác nhau, kết hợp chặt chẽ với các yếu tố của văn hóa cổ truyền Trung Hoa, vốn là nguồn gốc lịch sử và dân tộc của đa số cư dân hiện nay, văn hóa Nhật Bản, tín ngưỡng Khổng Tử và các sắc màu đến từ Phương Tây.

–          Sau khi dời đến Đài Loan, Quốc Dân Đảng đã áp đặt các phong tục chính thống của văn hóa truyền thống Trung Hoa cho văn hóa Đài Loan. Chính quyền tổ chức các chương trình về nghệ thuật thư pháp, thư họa, nghệ thuật cổ truyền và ca kịch Trung Hoa.

–          Kể từ phong trào địa phương hóa tại Đài Loan bắt đầu vào những năm 1990. Đặc điểm của văn hóa Đài Loan đã biểu hiện rõ nét hơn. Đặc tính chính trị, cùng với hơn một trăm năm tách biệt vở Trung Quốc đại lục đã khiến cho văn hóa truyền thống cũng có nhiều khác biệt trong nhiều lĩnh vực, như ẩm thực và âm nhạc.

–          Tình trạng của văn hóa Đài Loan đang là đề tài tranh luận. Người ta mâu thuẫn với nhau khi xếp loại văn hóa Đài Loan là một dạng văn hóa địa phương Trung Hoa hay là một nền văn hóa riêng. Nói tiếng Đài Loan đã trở thành một biểu tượng cho phong trào địa phương hóa và là tượng trưng cho đặc điểm của người Đài Loan.

–          Một trong các sức hút lớn nhất của Đài Loan là Bảo tàng Cung điện Quốc gia, nơi đây lưu giữ 650.000 hiện vật đồ đồng, ngọc bích, tư pháp, thư họa và gốm sứ Trung Hoa và được coi là một trong là một trong các bộ sưu tầm lớn nhất của nghệ thuật và đồ cổ Trung Hoa trên toàn thế giới. Quốc Dân Đảng đã di chuyển bộ sưu tầm này từ Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh năm 1949 khi họ chạy đến Đài Loan. Bộ sưu tầm này ước tính chiếm tới khoảng 1/10 kho tàng văn hóa Trung Hoa và chỉ 1% trong số đó được thay phiên nhau trưng bày. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho rằng bộ sưu tầm này đã bị ăn cắp và chúng thuộc về Trung Quốc về mặt luật pháp, nhưng Đài Loan trên thực tế đã bảo vệ được chúng khỏi những cuộc phá hoại nếu chúng còn nằm ở đại lục, đặc biệt là trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa.

–          Karaoke, một hình thức giải trí của văn hóa Nhật Bản, vô cùng phổ biến tại Đài Loan, tại đây chúng được gọi là KTV. Ngành kinh doanh KTV hoạt động giống như mô hình một khách sạn, được chia thành các phòng nhỏ và phòng khiêu vũ phù hợp với số khách trong nhóm. Nhiều KTV hợp tác với các nhà hàng, quán giải khát để tổ chức các hoạt động phục vụ đầy đủ cho các gia đình, bạn bè hoặc bạn kinh doanh.

                Đất nước Nhật Bản từ lâu đã trở thành biểu tượng du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới. Không những thế đây còn là quốc gia nổi tiếng về các lĩnh vực như giáo dục, công nghệ, môi trường,… Vì thế mà số lượng khách du lịch, du học sinh, nhà doanh nghiệp, công nhân xuất khẩu lao động có nhu cầu sang Nhật bản ngày càng nhiều. Vì thế hôm nay chúng ta hãy cùng tìm hiểu về đất nước này và tìm hiểu thủ tục làm visa đi Nhật một cách dễ dàng nhất nhé.

2.3

Đất nước Nhật bản – xứ sở hoa anh đào là một trong những địa điểm hot nhất hiện nay. Về lĩnh vực du lịch, Nhật bản từ lâu đã thu hút được rất rất nhiều du khách bởi phong cảnh tuyệt đẹp. Nhật Bản có loài hoa anh đào với vẻ đẹp làm mê lòng người, có ngọn núi Phú Sĩ hùng vĩ khiến ai cũng tò mò muốn được khám phá, có những hòn đảo, những hồ nước nóng nổi tiếng giúp khách du lịch trải nghiệm những cảm giác thư giãn hoàn toàn mới.

Ngoài ra bạn còn có thể được trải nghiệm những nét văn hóa đặc trưng của người Nhật bản như văn hóa uống trà đạo, nghệ thuật gấp giấy origami,… Ngoài phong cảnh và văn hóa thì ẩm thực Nhật bản cũng là một nét quyến rũ du khách đặc biệt là món sushi đã quá nổi tiếng trên toàn thế giới. Một điểm đặc biệt khi đến Nhật là bạn còn có thể mua sắm các mặt hàng nổi bật như mỹ phẩm, quần áo, thực phẩm chức năng,… Chắc hẳn ai cũng biết rằng Nhật bản đã quá nổi tiếng về chất lượng của những mặt hàng này rồi.

2.2

Nói về vấn đề giáo dục, Nhật bản hiện nay là một trong những quốc gia đứng đầu về lĩnh vực giáo dục, đào tạo con người, vì thế rất nhiều học sinh muốn đến du học tại Nhật và cũng rất nhiều bậc phụ huynh muốn gửi con em mình sang quốc gia này để trải nghiệm nền giáo dục tiên tiến, hiện đại,…

2.1

Về lĩnh vực kinh tế, Nhật bản hiện nay là quốc gia đứng thứ hai trong số những quốc gia đầu tư vào Việt Nam nên mối liên kết về kinh tế giữa 2 quốc gia là rất chặt chẽ dẫn đến tình trạng nhiều công nhân xuất khẩu lao động sang Nhật bản để làm việc.

Dù là đi du lịch, du học, làm việc hay xuất khẩu lao động,… thì bạn đều cần phải làm visa đi Nhật. Để giúp cho bạn và gia đình dễ dàng hoàn thành được những thủ tục xin visa nhanh chóng dễ dàng, Phòng vé Group Viet của chúng tôi sẽ giúp bạn đồng hành tư vấn mọi thủ tục xin visa đi Nhật.

Khi nhắc đến đảo quốc Singapore, chắc hẳn các bạn cũng giống như mình đều rất yêu thích và ngưỡng mộ 1 đất nước tuy nhỏ nhưng lại rất giàu có này phải không? Mình thì đặc biệt ấn tuợng với vẻ xanh, sạch, đẹp của quốc gia này và mong muốn được 1 lần du lịch đến đây để đuợc trải nghiệm hết những điều tuyệt vời mà  nhiều du khách đi về đã chia sẽ thực tế cho mình.

Singapore Overview

Singapore là 1 thành phố quốc tế sầm uất với nhiều toà nhà cao tầng, công viên và địa điểm giàu nét văn hoá. Với một quần thể văn hoá, ẩm thực, nghệ thuật và kiến trúc đan xen hài hoà, Singapore là thành phố năng động, phong phú về màu sắc và độ tuơng phản. Nguời ta cho rằng Singapore là nơi giao thoa của những nét đẹp tinh tuý nhất từ phuơng Đông và phuơng Tây. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu đôi nét về đất nước Sư tử biển này nhé

Khám phá lịch sử

Mặc dù những bản ghi chép đầu tiên về lịch sử Singapore đã bị phai nhòa theo thời gian, theo một tài liệu tiếng Hoa vào thế kỉ thứ 3 đã miêu tả mảnh đất này là “Pu-luo-chung”, hay còn gọi là “Hòn đảo ở tận cùng bán đảo”. Sau đó, khi những cộng đồng cư dân đầu tiên được hình thành từ năm 1298 đến năm 1299 trước Công nguyên thì mảnh đất này được biết đến với tên gọi là Temasek (nghĩa là “Thị trấn biển”).

 

Vào thế kỉ 14, hòn đảo nhỏ bé nhưng có vị trí chiến lược này đã có tên mới. Theo truyền thuyết, chàng Sang Nila Utama, một hoàng tử đến từ xứ Palembang (thủ đô của Srivijaya) trong chuyến đi săn đã gặp một con vật lạ mà chàng chưa bao giờ nhìn thấy. Coi đó là điềm lành, chàng liền đặt cho thành phố nơi xuất hiện con vật lạ cái tên là “Thành phố Sư tử” hay Singapura, mà theo tiếng Sanskrit thì “simha” có nghĩa là sư tử, còn “pura” có nghĩa là thành phố.

Vào thời gian đó, thành phố này được trị vì bởi 5 vị vua của Singapura cổ đại. Nằm ở vị trí địa đầu của bán đảo Mã Lai, là điểm quy tụ tự nhiên các dòng hải lưu, đất nước này đã đóng vai trò là một khu buôn bán nhộn nhịp với vô số các loại tàu buôn trên biển, từ các ghe thuyền của người Trung Quốc, tàu lớn của người Ấn Độ, thuyền buồm của người Ả Rập, tàu chiến của người Bồ Đào Nha cho đến những thuyền buồm dọc của người Bugis.

Giai đoạn quan trọng tiếp theo trong lịch sử Singapore là vào thế kỉ 19, thời điểm đất nước Singapore hiện đại được hình thành. Vào thời gian này, Singapore đã sớm trở thành cửa ngõ thông thương dọc theo eo biển Malacca, và người Anh đã nhận ra nhu cầu cần có một cảng biển cho toàn vùng. Những thương nhân Anh cần một vị trí chiến lược để nghỉ ngơi và bảo vệ đội thương thuyền của một đế chế đang ngày càng hùng mạnh, cũng như ngăn chặn nguy cơ cạnh tranh của người Hà Lan trong vùng.

Khi đó, tỉnh trưởng của vùng Bencoolen (ngày nay là Bengkulu) ở xứ Sumatra là ngài Thomas Stamford Raffles đã đặt chân đến Singapore vào ngày 29/1/1819, sau một cuộc khảo sát các hòn đảo xung quanh. Nhận ra tiềm năng lớn của một hòn đảo bị bao phủ bởi đầm lầy, ông liền thương thảo một hiệp ước với những người trị vì khu vực này và xây dựng Singapore thành một trung tâm thương mại. Không lâu sau, chính sách tự do buôn bán của hòn đảo đã thu hút rất nhiều thương nhân từ khắp Châu Á và các miền đất xa xôi như Mỹ và vùng Trung Đông.

Vào năm 1832, Đảo quốc Singapore đã trở thành trung tâm hành chính của Khu Định cư Eo biển Penang, Malacca và Singapore. Cùng với việc khai thông kênh đào Suez vào năm 1869 cũng như việc phát minh ra máy điện báo và tàu thủy chạy bằng hơi nước, Singapore ngày càng trở nên cực kì quan trọng với vai trò là cửa ngõ thông thương nối liền phương Đông với phương Tây. Cho đến năm 1860, dân số của đất nước thịnh vượng này từ con số chỉ 150 người vào năm 1819 đã tăng lên thành 80.792 người, chủ yếu là người Hoa, Ấn Độ và Mã Lai.

Thế nhưng vào Thế chiến thứ II, cuộc sống hòa bình và thịnh vượng của mảnh đất này đã bị hủy hoại, mở màn bằng cuộc tấn công bằng máy bay của quân Nhật vào ngày 8/12/1941. Và khi được nhận thấy là một pháo đài vô cùng vững chắc có tầm ảnh hưởng chiến lược, Singapore đã bị quân Nhật xâm chiếm vào ngày 15/2/1942. Singapore đã bị Nhật chiếm đóng Singapore trong vòng 3 năm rưỡi, khoảng thời gian đánh dấu sự đàn áp dã man đã cướp đi vô vàn mạng người.

Khi quân Nhật đầu hàng vào năm 1945, mảnh đất này đã rơi vào tay Chính quyền Quân sự Anh, cho đến khi Khu Định cư Eo biển gồm Penang, Melaka và Singapore giải tán. Vào tháng 3 năm 1946, Singapore trở thành một Thuộc địa Hoàng gia Anh

Ông Lý Quang Diệu - Thủ tướng đầu tiên của Singapore

Ông Lý Quang Diệu – Thủ tướng đầu tiên của Singapore

Vào năm 1959, sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc đã hình thành chế độ tự trị ở quốc gia này và cuộc tổng tuyển cử đầu tiên đã diễn ra. Đảng Nhân Dân Hành Động (PAP) đã giành được 43 ghế và Ông Lý Quang Diệu trở thành thủ tướng đầu tiên của Singapore. Vào năm 1961, Singapore sát nhập vào Malaya và hợp nhất với Liên bang Malaya, Sarawak và Bắc Borneo thành nước Malaysia vào năm 1963. Tuy nhiên, cuộc hợp nhất không đạt được nhiều thành công và gần 2 năm sau đó, cụ thể là vào ngày 9 tháng 8 năm 1965, Singapore đã tách khỏi Malaysia và trở thành một quốc gia độc lập với nền dân chủ có chủ quyền lãnh thổ. Vào ngày 22 tháng 12 năm đó, Singapore cuối cùng đã chính thức trở thành một nước Cộng hòa độc lập.

Ngày nay, bạn có thể chiêm ngưỡng các di sản lịch sử phong phú của Singapore qua các chuyến thăm tới nhiều công trình kỷ niệm, bảo tàng và các đài tưởng niệm quốc gia nằm xung quanh thành phố. Khi tới đây tham quan, bạn hãy nhớ đi bộ dọc theo một trong những khu di sản hoặc thăm những danh lam nổi tiếng để có được một chuyến đi với cảm nhận trọn vẹn về đất nước Singapore này nhé.

Nền văn hoá phong phú và đa dạng

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của Singapore là cơ cấu dân số đa dạng gồm nhiều chủng tộc nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi và những thành tựu thương mại của đất nước. Được ngài Thomas Stamford Raffles thành lập như một đầu mối giao thương buôn bán vào ngày 29 tháng 1 năm 1819, Singapore – một làng chài nhỏ bé ngày nào đã nhanh chóng thu hút những người dân nhập cư và các thương nhân đến từ Trung Quốc, tiểu lục địa Ấn Độ, Indonesia, bán đảo Mã Lai và vùng Trung Đông.

Bị lôi cuốn bởi viễn cảnh tương lai tươi đẹp, những người nhập cư đã mang theo những nét riêng về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và các lễ hội của mình đến Singapore. Các cuộc kết hôn chéo và sự chung sống hòa hợp giữa các dân tộc đã dệt nên một bức tranh văn hóa đầy màu sắc, hình thành một xã hội Singapore đa dạng và mang lại cho đảo quốc này một di sản văn hóa phong phú đầy sức sống. Cho đến cuối thế kỉ 19, Singapore đã trở thành một trong những thành phố đa chủng tộc – đa văn hóa nhất của châu Á với các dân tộc chủ yếu là người Hoa, người Mã Lai, người Ấn, người Peranakan và những người Á Âu.

Ngày nay, người Hoa chiếm 74,2% dân số Singapore, và người Mã Lai – những cư dân đầu tiên ở nước này, chiếm 13,4%. Người Ấn chiếm 9,2%, còn lại là người Á Âu, Perankan và các dân tộc khác chiếm 3,3%. Singapore còn là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng người nước ngoài rộng lớn nhau như Bắc Mỹ, Úc, Châu Âu, Trung Quốc và Ấn Độ.

Như một sự phản ánh của nền văn hóa đa dạng, Singapore đã chọn ra  ngôn ngữ đại diện cho bốn dân tộc chính của đất nước. Bốn ngôn ngữ chính thức trong Hiến pháp của Singapore bao gồm tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Mã Lai và tiếng Tamil. Mặc dù tiếng Malay là ngôn ngữ quốc gia,nhưng tiếng Anh là ngôn ngữ thường được sử dụng trong giao dịch kinh doanh, chính phủ và các phương tiện giảng dạy trong trường học.

Sự có mặt của các ngôn ngữ khác, đặc biệt là các biến thể của tiếng Mã Lai và tiếng Hoa, đã có ảnh hưởng rõ rệt đến cách dùng tiếng Anh tại Singapore. Ảnh hưởng này đặc biệt rõ nét trong cách sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp thông thường, một dạng tiếng Anh lai tiếng địa phương thường được biết đến với tên gọi Singlish. Là một dấu hiệu đặc trưng để nhận biết người Singapore, ngôn ngữ này tiêu biểu cho hình thức biến tấu ngôn ngữ bằng cách lồng ghép các từ của tiếng Mã Lai, tiếng Hoa và tiếng Ấn vào tiếng Anh.

Văn hóa Singapore vô cùng đa dạng

Hầu như mọi người dân Singapore đều có thể nói nhiều hơn một thứ tiếng, trong đó nhiều người có thể nói được tới ba hoặc bốn thứ tiếng. Hầu hết trẻ em lớn lên trong môi trường song ngữ từ thuở nhỏ và có thể học các ngôn ngữ khác khi lớn lên. Trong phần lớn dân số biết hai thứ tiếng, tiếng Anh và tiếng Hoa phổ thông là hai ngôn ngữ được dùng phổ biến nhất trong cuộc sống hàng ngày. Trong khi tiếng Anh là ngôn ngữ chính được dạy ở trường học thì trẻ em vẫn học tiếng mẹ đẻ để duy trì truyền thống văn hóa của dân tộc mình.

Đối với phần lớn người Hoa thì tiếng Phổ Thông được chọn là ngôn ngữ chính thay vì các biến thể khác như tiếng Phúc Kiến, tiếng Triều Châu, tiếng Quảng Đông, tiếng Khách Gia, tiếng Hải Nam và tiếng Phúc Châu. Tiếng phổ thông là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến thứ hai của người Singapore gốc Hoa, tiếng Phổ Thông đã được dùng rộng rãi kể từ phong trào “Nói Tiếng Phổ Thông” – phong trào hướng đến cộng đồng người Hoa trong suốt năm 1980. Trong những năm 90, những nỗ lực này nhằm hướng đến những người Hoa được giáo dục trong môi trường tiếng Anh.

Hãy khám phá những địa điểm văn hóa đa dạng, những khu tôn giáo quanh đảo quốc và làm quen với xã hội đa văn hóa của Singapore. Dù là du lịch theo đoàn hay tự mình khám phá Singapore thì chắc chắn bạn cũng sẽ thấy được một thoáng lịch sử đầy ấn tượng, nền văn hoá đa dạng và lối sống của người dân tại đây.

Các điều kiện về kinh tế xã hội

Đất nước nhỏ bé này hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước.

Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu Châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp máy móc tinh vi. Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là Khu công nghiệp Du-rông (Jurong). Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở Châu Á.

SINGAPORE economy

Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và Châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh.

Singapore có nền kinh tế phát triển và thị trường hoàn toàn tự do. Môi trường kinh doanh lành mạnh, không có hối lộ, giá cả ổn định, thu nhập bình quân trên đầu người cao hơn hầu hết các nước phát triển khác. Nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu, đặc biệt là hàng điện tử tiêu dùng, sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm và khu vực dịch vụ tài chính hiện đang phát triển mạnh.

1. Bạn thích biển đảo?

Đảo Rawa

Rawa là một hòn đảo nhỏ xinh cách bờ biển phía Đông của bán đảo Malaysia 16 km. Cả hòn đảo chỉ có hai khu nghỉ mát nằm bên bờ biển cát trắng. Nơi đây vẫn thu hút du khách bởi khung cảnh bình yên và những vách đá tự nhiên hướng thẳng xuống biển. Do gần với các đảo chính của Malaysia, Rawa thích hợp cho những kỳ nghỉ ngắn ngày. Từ Kuala Lumpur, du khách bắt xe buýt đến Mersing, tại đây sẽ có chuyến phà đi Rawa.

du lịch malaysia, du lịch malay, tour malay, tour malay giá rẻ, du lịch malay giá rẻ, tour malaysia

Đảo Tioman

Hòn đảo Tioman nổi tiếng thuộc thị trấn Mersing, bang Johor, Malaysia từng được tạp chí Time bình chọn là một trong những hòn đảo đẹp nhất thế giới. Là một trong những hòn đảo phát triển thương mại nhất Malaysia nhưng Tioman vẫn lưu giữ được vẻ đẹp tự nhiên và sự đa dạng các loài động vật hoang dã. Hòn đảo được bao quanh bởi các rạn san hô nên nơi đây là điểm đến lý tưởng dành cho những du khách mê lặn biển.

du lịch malaysia, du lịch malay, tour malay, tour malay giá rẻ, du lịch malay giá rẻ, tour malaysia

Bãi biển Port Dickson

Nằm cách trung tâm thủ đô Kuala Lumpur 60km, Port Dickson với bãi biển dài 18km và hệ thống khách sạn, resort hiện đại, đầy đủ tiện nghi được xem nơi là nghỉ mát tốt nhất cho những ngày cuối tuần gần Kuala Lumpur. Cũng giống như những bãi biển khác tại Malaysia, Port Dickson có khí hậu thoáng mát, trong lành, cùng với những hàng dừa thẳng tắp, là nơi lý tưởng để ngồi bên bờ biển đọc một cuốn sách hay ngắm hoàng hôn.

du lịch malaysia, du lịch malay, tour malay, tour malay giá rẻ, du lịch malay giá rẻ, tour malaysia

2. Bạn thích khám phá văn hóa?

George Town

Hòn đảo xinh đẹp Penang nằm ở phía Tây Bắc của Malaysia, là nơi gặp gỡ và giao lưu văn hoá Đông – Tây. Vì thế, những con phố, ngôi nhà, những nét kiến trúc… của Penang là sự pha trộn đặc biệt, tạo nên nét quyến rũ độc đáo và được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Đặc biệt, phố cổ George Town – thủ phủ của bang Penang, là một trong những điểm nhấn du lịch của nơi này. Tới đây, du khách sẽ được tận hưởng nhịp sống trong không gian cổ kính, yên bình cùng những món ăn làm nên thương hiệu “thiên đường ẩm thực của đất nước Malaysia”.

du lịch malaysia, du lịch malay, tour malay, tour malay giá rẻ, du lịch malay giá rẻ, tour malaysia

Ipoh

Ipoh là thành phố của bang Perak, thu hút du khách bởi các công trình kiến trúc thực dân cũ như: tháp đồng hồ Birch Memorial Clocktower, nhà ga xe lửa Ipoh Railway Station, tòa nhà ủy ban Ipoh Town Hall, bảo tàng Muzium Darul Ridzuan, đền Tamil Mariamman Kovil,… Do vậy, nếu bạn muốn tìm hiểu về văn hóa đa dạng của Malaysia thì Ipoh nên là điểm đến được ưu tiên.

khám phá Malaysia, du lịch Malaysia, đảo Rawa, đảo Tioman, biển Port Dickson
Ảnh: Robert A

Malacca

Trái ngược hoàn toàn với sự sôi động, nhịp sống hối hả của thủ đô Kuala Lumpur, thành phố Malacca chỉ cách thủ đô khoảng 2,5 giờ lái xe lại có nét duyên dáng của một thế giới cổ, là sự kết hợp hài hòa của Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh hòa trộn với nền văn hóa Ả Rập, Ấn Độ và Trung Quốc. Với không gian êm đềm, cổ kính và tĩnh lặng, Malacca luôn được xem là những trang sách sinh động và quý giá trong lịch sử hình thành và phát triển của đất nước này.

du lịch malaysia, du lịch malay, tour malay, tour malay giá rẻ, du lịch malay giá rẻ, tour malaysia

3. Bạn là tín đồ “ghiền” mua sắm?

Johor Bahru

Nằm ở cửa ngõ ra vào giữa Malaysia và Singapore, do vậy Johor Bahru nghiễm nhiên trở thành một thiên đường mua sắm hấp dẫn. Có rất nhiều trung tâm thương mại ở xung quanh thành phố. Hầu hết các trung tâm mua sắm ở đây mở cửa đến 10h khuya và thường có những chương trình khuyến mãi hấp dẫn. Chẳng hạn như giảm giá lên đến 65%, thậm chí với các nhãn hiệu danh tiếng như: Burberry, Versace, Armani,… Ngoài các nhãn hàng thời trang Johor Bahru còn hấp dẫn với các mặt hàng khác như: đồ trang sức, hàng điện tử, đồ chơi trẻ em,…

du lịch malaysia, du lịch malay, tour malay, tour malay giá rẻ, du lịch malay giá rẻ, tour malaysia

Kuala Lumpur

Kuala Lumpur – thủ đô và thành phố lớn nhất ở Malaysia “đốn tim” du khách không chỉ bởi những công trình kiến trúc đặc sắc, vốn là sự pha trộn giữa kiến trúc phương Đông và phương Tây, mà còn bởi Kuala Lumpur được xem là thiên đường mua sắm, khi hầu hết các khu chợ và trung tâm thương mại lớn, sầm uất của đất nước đều quy tụ tại đây.

du lịch malaysia, du lịch malay, tour malay, tour malay giá rẻ, du lịch malay giá rẻ, tour malaysia

4. Bạn thích trải nghiệm phiêu lưu, mạo hiểm?

Langkawi

Quần đảo Langkawi bao gồm 99 đảo nằm ở vùng biển Andaman. Ở đây có những bãi biển tuyệt vời, những khu du lịch cao cấp và nhiều hoạt động gắn liền với thiên nhiên. Nét nổi bật nhất của Langkawi chính là không gian thiên nhiên hùng vĩ với những hang đá vôi lộ thiên giữa một khu rừng nhiệt đới xanh ngắt. Tới đây, du khách có thể đi thuyền xuyên qua rừng ngập mặn. Hoặc tận hưởng cảm giác thú vị khi cho chim đại bàng ăn, khám phá khu rừng nhiệt đới hoặc làm một chuyến du hành xuyên rừng,…

du lịch malaysia, du lịch malay, tour malay, tour malay giá rẻ, du lịch malay giá rẻ, tour malaysia

Kuching

Là thành phố lớn nhất trên đảo Borneo, Kuching là một điểm đến thú vị để bạn khám phá khu rừng nhiệt đới Borneo và bang Sarawak. Tuy nhiên, Kuching cũng cung cấp cho du khách rất nhiều hoạt động để bạn khám phá trong thời gian nghỉ ngơi ở đây, từ những điểm tham quan các di tích lịch sử, đến các khu chợ nhộn nhịp và các hoạt động vui chơi giải trí ngoài trời.

khám phá Malaysia, du lịch Malaysia, đảo Rawa, đảo Tioman, biển Port Dickson
Ảnh: Bernard Dupont